Hôm nay Chủ nhật, ngày 20 tháng 1 năm 2019
Tìm kiếm
TRA CỨU THÔNG TIN
LỊCH THI
LỊCH HOẠT ĐỘNG
THỜI KHÓA BIỂU
THĂM DÒ Ý KIẾN
THỐNG KÊ
Số người online: 22
Số lượt truy cập: 0
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG
   CHUYÊN SAN HỌC TRÒ
Trang chủ > > tài liệu học tập   
 

Phân tích cấu trúc đề thi đại học môn Toán

 Về cơ bản, cấu trúc đề thi 4 năm gần đây không có biến đổi nhiều.

 Phân tích cấu trúc đề thi đại học môn Toán

Các câu hỏi dễ kiếm điểm thường tập trung vào các phần Khảo sát hàm số, Lượng giác, Nguyên hàm – Tích phân… và các câu hỏi khó vẫn thường xuất hiện trong Phương trình, Bất đẳng thức, Hình không gian…

Theo xu hướng ra đề 4 năm gần đây, câu dễ lấy điểm thường tập trung vào các chuyên đề 1,2,4,8,9 (Xem thêm bên dưới). Học sinh chỉ cần nắm vững các kiến thức cơ bản, biết cách nhận dạng phương pháp làm một số bài toán và tính toán cơ bản là có thể đạt được khoảng 5, 6 điểm.

Các chuyên đề còn lại 3,5,6,7 là các chuyên đề tương đối khó. Để làm được các chuyên đề này, ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản, học sinh còn cần rèn luyện khả tư duy biến đổi cũng như tích luỹ thêm các kinh nghiệm làm bài.

Xem chi tiết phân tích cấu trúc đề thi môn Toán từ năm 2010 - 2013 để lên kế hoạch học tập phù hợp với mục tiêu điểm số của bạn:


Theo dấu ước mơ

Một quyển sách cho các học sinh chuẩn bị vượt vũ môn


Đề cương ôn tập thi HKI, năm học 2013-2014 - Môn Văn


Đề cương ôn tập thi HKI, năm học 2013-2014 - Môn Toán


Đề cương ôn tập thi HKI, năm học 2013-2014 - Môn Lý


Đề cương ôn tập thi HKI, năm học 2013-2014 - Môn Hóa


Đề cương ôn tập thi HKI, năm học 2013-2014 - Môn Anh


Một số đề thi môn Anh văn


Giai thoại về Cao Bá Quát

Cá nuốt cá, người trói người

Chuyện kể khi còn bé, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở ngoài bắc, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong cảnh. Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một câu đối, bảo nếu đúng Quát là học trò thì phải đối được, sẽ tha không đánh đòn; vua đọc:

Nước trong leo lẻo, cá đớp cá.

Cậu Quát ứng khẩu đối ngay:

Trời nắng chang chang, người trói ngườị


Hay là thầy Lý...

Ở làng Cao Bá Quát có viên lý trưởng có tiếng là hay nhũng lạm. Dân làng chê trách nhưng không ai dám chỉ trích công khai. Cao Bá Quát tuy còn nhỏ tuổi, nhưng cũng biết chung mối bất bình với dân chúng. Nhân có việc làng cho đắp đôi con voi thờ dựng trước cửa đình, cậu Quát cùng chúng bạn ra chơi, lấy bút viết luôn vào lưng voi bài thơ:

Khen ai rõ khéo đắp đôi voi
Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi
Chỉ có cái kia sao chẳng đắp
Hay là thầy Lý bớt đi rồị


Ước đời Nghiêu Thuấn

Một lần Cao Bá Quát đến nghe bình văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu. Lính bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời:

- Tôi học với ông Trình ông Chu.

Trình, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn! Quan đốc giận, ra câu đối bắt đối ngay:

- Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp?

(Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn?)

Cậu Quát đối lại:

- Ngã quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân.

(Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu).

Quan đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi. Ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá Quát.



Câu đối khóc mướn


Cả mấy thầy nho đi gặp một đám tang, chủ nhà mời dừng chân để xin câu đối. Không hề quen biết, cũng chưa rõ tình hình cụ thể thế nào, không ai nghĩ ra viết câu đối sao cho hợp. Một nho sĩ cùng đi trong đám ấy, xin giấy bút viết ngay:

- Thấy xe thiện cổ xịch đưa ra, không thân thích lẽ đâu khóc mướn.
Tưởng sự bách niên đừng nghĩ lại, động can tràng nên phải thương caỵ

Các nhà khoa bảng ở đám tang hết sức phục đôi câu đối tài tình. Có người đoán ra ngay: - Cứ giọng văn lưu loát và tình cảm phóng khoáng này thì tác giả chắc chắn là Cao Bá Quát. Họ chèo kéo đám nho sĩ để hỏi han, thì quả nhiên đúng như vậy.


Cót két thẩn thơ

Tương truyền khi chưa quen nhau, ông Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm dò. Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học. Ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận.

Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két.

Ông Quát đối ngay:

Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thợ

Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên.


Câu thơ thi xã

Cao Bá Quát vào Huế thi, rồi được làm một chức quan nhỏ ở Huế. Các ông hoàng bà chúa cùng với những tao nhân mặc khách ở Kinh đô, thường nhóm họp nhau, đàm luận và xướng họa thơ văn. Họ lập ra một thi xã lấy tên là Tùng Vân. Tùng Vân là tên hiệu của Tùng Thiện Vương Nguyễn Miên Thẩm, người đứng đầu thi xã này. Có người muốn rủ ông Quát vào thi xã, đưa cho ông xem một vài tập thơ văn, nhưng vô tình lại không chọn lựa, đưa phải những bài quá kém. Nghe nói, ông Quát xem rồi bịt mũi đọc câu ca:

Ngán cho cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An.

Nhiều nhà thơ ở Huế bất bình về sự khinh miệt này. Tuy bất bình, họ vẫn phải ngầm đọc lại các tác phẩm của mình, để xem có đến nỗi "hôi" như mùi thuyền chở nước mắm ở Nghệ An vào không?

Riêng có vị chủ trì thi xã, Tùng Thiện Vương là có thái độ khác. Ông cũng thấy trong số hội viên thi xã Tùng Vân nhiều người văn chương... đáng chê trách. Còn Cao Bá Quát, thì thật là một tài năng. Tùng Thiện Vương đã nhún mình, nhiều lần tìm gặp và đón mời ông Cao. Cuối cùng Cao Bá Quát cảm động, trở thành bạn thân của Tùng Vân.




Câu đối đề đèn lồng

Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh). Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đã đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:

- Trước mẹ dạy con, gió chiều nào che chiều ấy, con dạ.
Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi!

Trong Nam truyền tụng là câu đối rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát với đôi đèn.


Câu đối đề nhà học

Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đình nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:

Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi (*)

(*) Câu đối này có người cho là của Ông ích Khiêm.


Tài liệu tham khảo về Hồ Xuân Hương

Bà chúa thơ Nôm với rất nhiều dấu hỏi
Thơ của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương thì dường như người Việt nào từng đọc thơ, ai cũng thuộc… dăm bài. Nhưng, bà là ai, sinh năm bao nhiêu, số phận như thế nào và nhiều điều quan trọng liên quan đến bà nữa vẫn nằm lửng lơ trong thắc mắc của cả những chuyên gia nghiên cứu tài danh nhất, của nhiều quốc gia! Thậm chí, có nơi phủ nhận, rằng trên cuộc đời chưa từng có một nữ sĩ tài danh là Hồ Xuân Hương (tất nhiên cơ bản tư liệu vẫn khẳng định là có). Thậm chí, chồng bà là ai thì đến nay cũng chỉ khẳng định chắc chắn được rằng: bà lấy ông tham hiệp An Quảng Trần Phúc Hiển, còn những Tổng Cóc, tri phủ Vĩnh Tường đều còn nằm ở dạng nghi vấn (dù bài thơ khóc các vị “hôn phu” ấy thì ai cũng thuộc). Về thơ, cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Nghĩa Bình do Lê Trí Viễn chủ biên có đề nghị một cách lựa chọn thơ bà căn cứ trên nội dung tư tưởng cùng hai hiện tượng văn bản học là “dân gian hóa” và “Xuân Hương hóa” đó là một cách nghĩ được nhiều người nhất trí cao. Và, qua những điều đó, cùng sức cuốn hút của việc giải mã những gì liên quan đến bà chúa thơ Nôm là rất lớn; cuộc tranh luận về thơ và đời bà chắc còn phải kéo dài.


Ky vat cua Ho Xuan Huong-su that moi tinh voi Tong Coc
Đôi lục bình thờ mà bà con cho rằng nữ sĩ Xuân Hương đã đề thơ trong thời gian làm lẽ ông Tổng Cóc.

Những tư liệu tạm thời đưa ra cho đến lúc này: Theo tác giả Lê Xuân Sơn viết trong tập “Hồ Xuân Hương thơ và đời” thì Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, con của ông Hồ Sĩ Danh (1706-1783), quê ở làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mẹ Hồ Xuân Hương là một người thiếp (vợ lẽ), người Hải Dương của ông Hồ Sĩ Danh. Nhưng, tài liệu khác lại trích dẫn trong Hồ Quỳnh Gia Phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu) cho rằng: Hồ Xuân Hương sinh năm 1772 mất năm 1822, là con ông Hồ Phi Diễn ở làng Quỳnh Đôi. Có tài liệu lại phân tích, Hồ Xuân Hương và anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là có chung ông tổ 5 đời (?).


Nhưng có một điều chắc chắn: Hồ Xuân Hương sống vào thời Lê mạt Nguyễn sơ, người cùng thời với Nguyễn Du (1765-1820), Phạm Đình Hổ (tức Chiêu Hổ, 1768-1839). Hồ Xuân Hương học rộng tài cao, uyên thâm cả Nho, Lão, Phật, và đặc biệt có tài ứng đối, sử dụng điển tích tài tình. Nhiều bậc trí giả đương thời phải công nhận bà là người “Tài cao nhã phượng thế gian kinh”. Có tài liệu ghi rõ, đại thi hào Nguyễn Du từng so sánh bà với nàng Tiểu Thanh tài sắc lừng lẫy bên Trung Hoa. Thơ văn của bà dễ khiến người ta nghĩ đến chữ “dâm tục”, với nhiều ý tứ lẳng lơ, mỉa mai, táo bạo, phá cách, tinh nghịch nhưng sâu xa là nỗi lòng của một người phụ nữ có tài, có sắc, mang nhiều khát vọng sống; song chịu quá nhiều hẩm phận trong chế độ hà khắc cũ…

Những câu chuyện sinh động...

Nhiều tài liệu cho rằng, trước khi kết hôn với ông phủ Vĩnh Tường, bà Hồ Xuân Hương có làm lẽ ông Tổng Cóc một thời gian, hai người chung sống tại làng Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ngày nay. Chuyện này hoàn toàn có thể tin được.

Hồ Xuân Hương làm lẽ ông Tổng Cóc thì đúng rồi, nhưng việc bà khóc ông ấy là khóc người chết hay khóc đưa tang một cuộc tình trắc trở? Chàng Cóc là ai mà lại lấy được bà chúa thơ Nôm về tận miền trung du xa tít ấy - mà lại chỉ cho làm vợ lẽ? “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” (thơ Hồ Xuân Hương).


Ky vat cua Ho Xuan Huong-su that moi tinh voi Tong Coc
Đến cái bậu cửa nhà ông Tổng Cóc cũng được vẽ hình lưỡng long chầu nguyệt.

Kết quả mà các nhà nghiên cứu đưa ra lập tức gây sửng sốt: Cụ Dương Văn Thâm, hơn 90 tuổi, hội viên kỳ cựu Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, một bậc túc nho trong vùng cũng đã dày công hoàn thành một công trình về “Chàng Cóc” và mối tình với bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, theo đó, chuyện về “cô con dâu đỏng đảnh” Xuân Hương vẫn được người trong làng kể vanh vách cho đến tận giờ phút này, dẫu rằng, dễ đến 200 năm đã trôi qua kể từ khi nữ sĩ về làm vợ Tổng Cóc (nếu giả thuyết này là sự thật). Điều lạ nữa là những lời kể của người làng về bà Xuân Hương rất thống nhất: không ưa gì cô con dâu lắm nết xấu: không biết cấy cày, chỉ quanh quẩn thơ văn nhảm nhí; dáng thanh yểu điệu chứ không “lưng ong đùi dế” như tiêu chí bà con vẫn hằng dùng để chọn con dâu.


Tổng Cóc làm cho cà cả một cái nhà thủy tạ để tiếp bạn thơ văn, nhưng mỗi lần Xuân Hương cho người làm món cá lên xơi thì nàng chỉ ăn khúc giữa còn bỏ đầu bỏ đuôi. Điều này khiến người làng quay ra nhiếc móc Xuân Hương là ăn tàn phá hại, nhà Tổng Cóc giàu thế đã ra mẽ gì, sẽ tán gia bại sản vì cái sự “õng ẹo” ấy thôi! Thậm chí có gã phù thủy còn xui Tổng Cóc kiểm tra xem mình lấy phải người hay lấy phải yêu tinh, bằng cách đợi khi Xuân Hương ngủ, dùng một tàu lá chuối tươi to úp lên người nàng. Nếu sáng ra tàu lá bị nát nhàu, thì vợ lẽ Tổng Cóc là người đàn bà chân chỉ hạt bột, chẳng qua vợ cả và đàn con của mụ nói xấu vu vạ cho nàng thôi.


Nhược bằng tàu lá sáng ra vẫn còn nguyên thì đích thị Xuân Hương là… yêu quái. Tổng Cóc thử. Và dĩ nhiên, cái người gặp cảnh làm lẽ như nàng thì làm sao mà ăn no ngủ kĩ đè nát được tàu lá chuối to. Thế là Tổng Cóc dần cũng nản lòng vì sự mâu thuẫn ngày càng lớn giữa tài danh nanh nọc Xuân Hương và giấm chua lửa nồng ghen ghét của mụ vợ cả. Sau này, khi Xuân Hương bỏ đi làm vợ ông phủ Vĩnh Tường trong khi nàng đang có thai ba tháng tuổi với Tổng Cóc. Con của hai người cũng đã không sống được. Bài “Khóc Tổng Cóc” vì thế mà ai oán hơn, oán trách hơn, song cũng day dứt và nặng nghĩa tình hơn: “Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!”.


Cả làng cả tổng đều kể một câu chuyện giống nhau, khiến người ta không thể không tin đó là sự thực. Khi các bậc chữ nghĩa đầy mình về điều tra, thì hóa ra Tổng Cóc không trọc phú, cũng không xấu như… cóc. Tổng Cóc có tên thường gọi là Kình, người làng Gáp, Tứ Xã là con cháu quan nghè làng Gáp Nguyễn Quang Thành. Trong cuốn Lịch triều tạp kỉ, viết rõ: “Ông Nguyễn Quang Thành có tiếng là thần đồng, 24 tuổi đỗ tiến sĩ, xuất thân năm Canh Thân, Lê Chính Hòa (1680). Ông làm quan trong triều giữ chức “Thiểm đô ngự sử”. Tên ông vẫn còn in trên bia số 80 ở Văn miếu Quốc Tử Giám. GS. Lê Trí Viễn viết sau quá trình tâm huyết nghiên cứu ở Tứ Xã đã đưa ra kết luận : “Tổng Cóc không phải là một anh trọc phú, mà là một nho sĩ từng có phen lều chõng như ai và trong sự gặp gỡ Hồ Xuân Hương có chuyện chữ nghĩa, chứ chẳng phải do đồng tiền”.

...và những “di vật của bà chúa thơ Nôm” ở Tứ Xã

Ky vat cua Ho Xuan Huong-su that moi tinh voi Tong Coc
Mẹ đẻ anh Bùi Văn Thắng giữ gìn đôi lục bình gỗ mít sơn then.

Câu chuyện về mối tình này còn đi đến hồi thú vị hơn khi mà ở làng Tứ Xã hiện nay, bà con còn trân trọng giữ gìn được nhiều kỷ vật mà cả làng cả xã đều tin rằng đó là của cặp vợ chồng Tổng Cóc - Hồ Xuân Hương. Đó là một đôi lục bình có khắc chữ Hán, gia đình anh Bùi Văn Thắng đang lưu giữ. Lục bình gỗ mít, phủ sơn then đen bóng tương truyền là khi còn ái ân mặn nồng, con người hào hoa văn võ song toàn Tổng Cóc đã yêu cầu vợ lẽ của mình - bà chúa thơ Nôm đề thơ lưu bút tích (xem ảnh).


Đôi lục bình vốn được đặt trên bàn thờ nhà Tổng Cóc, sau này kinh tế sa sút, đã phải bán tất đi. Cách nhà anh Thắng một cánh đồng, ngôi nhà lớn, làm toàn bằng gỗ quý, lợp ngói âm dương của gia đình Tổng Cóc vẫn được gia đình nhà giáo Kiều Phú trân trọng giữ gìn. Ngôi nhà được làm cầu kỹ tới mức, đến cả cái ngưỡng (bậu) cửa ra vào cũng được trạm hình lưỡng long chầu nguyệt - rất phá cách và chơi ngông (xem ảnh). Khoảng 200 năm qua, người hai xã Tứ Xã, Sơn Dương ai ai cũng vẫn gọi đó là ngôi nhà ông Tổng Cóc. Con cháu ông Tổng Cóc giờ nhiều người vẫn sống ở làng, và đã nhiều lần ngỏ ý muốn chuộc ngôi nhà về để làm nhà thờ. Nhiều thế hệ học trò cấp 3 ở tỉnh Phú Thọ vẫn thường được nhà trường đánh ô tô đưa về nhà ông Kiều Phú để tham quan những hiện vật liên quan đến cuộc hôn nhân Tổng Cóc - Hồ Xuân Hương.


Trên bức vách bằng gỗ mít phiến dày phía trong nhà, còn lưu những dòng “thủ bút” được kể là của chính Hồ Xuân Hương đã “ngẫu hứng, mài mực, đề thơ”. Dòng chữ như sau: “Thảo lai băng ngọc kính/ Xuân tận hóa công hương”; và “Độc bằng đan quế thượng/ Hảo phóng bích hoa hương”. Cụ Dương Văn Thâm dịch nghĩa bốn câu này trong công trình Chàng Cóc là ai của mình như sau: “Tấm gương trong trắng ví như người con gái trong trắng/ Nhưng hết tuổi xuân sắc rồi thì thợ trời cũng chịu (không níu giữ được)/ Chỉ còn biết dựa vào phúc đức, con cháu/ (Thì khi ấy) hương thơm sẽ tỏa đi khắp muôn nơi”. Cái cây hết xuân sắc rồi thì thợ trời cũng chịu, đúng là khẩu khí của Hồ Xuân Hương! Qua thời gian, do nhiều nhà quản lý địa phương, nhà nghiên cứu, người tham quan đã khiêng cả bức vách gỗ ra để bôi thuốc hiện màu vào nhằm in rập những nét chữ quí; qua nhiều mùa nước ngập, dòng chữ đã mờ đi rất nhiều.


Không biết, qua những câu chuyện, những hiện vật thuyết phục, sinh động, bất ngờ và hấp dẫn còn lưu giữ ở hai xã Tứ Xã, Sơn Dương (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) như thế, số phận và sự nghiệp thơ văn mang nhiều dấu hỏi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương có rõ nét lên được chút nào?


Đó là những câu chuyện giản đơn nhưng biết đâu, chân dung bà chúa thơ Nôm cũng sẽ gần gũi, đa sắc, và có da có thịt hơn nhờ thế?!

  • Thành Sơn - Đinh Vũ (KH&ĐS Xuân 2006)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)


Giai thoại về nhà văn Nguyễn Tuân

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân có thói quen đến uống bia ở quầy bia Cổ Tân. Bấy giờ bia còn là loại hiếm nên đôi khi nhà văn cũng phải...

  

 

- Này, cháu làm gì thế?

Đứa bé ngước mắt nhìn ông già rồi trả lời hết sức thản nhiên:

- Thưa bác, cháu xếp hàng mua bia cho bố cháu.

- Thế thì... - nhà văn già cúi xuống đứa bé - cháu hãy nhìn kỹ bác đây này: Bác già rồi. Đầu bác hói, tóc bác bạc, cằm bác có râu. Nhớ chưa?

- Dạ thưa bác, cháu nhớ rồi. - Lần này đứa bé trả lời có vẻ ngần ngại. Song nó vẫn băn khoăn - Nhưng thưa bác, nhớ thế để làm gì ạ?

Nhà văn già điềm nhiên trả lời:

- À, để rồi ngày mai nhỡ bác có đến sau thì nhớ cho bác “chen ngang” với nhé.

Đứa bé im lặng, đỏ bừng mặt... Hình như nó đã hiểu.

Tình bạn Nguyễn Tuân - Ngô Tất Tố

Nhà văn Nguyễn Tuân sinh năm 1910, so với nhà văn Ngô Tất Tố (sinh năm 1894) thì thuộc thế hệ “đàn em”, nhưng sinh thời, hai ông đã từng có những kỷ niệm rất mật thiết với nhau, như bạn bè đồng trang lứa.

Tác giả Vang bóng một thời có lần nhớ lại: Hồi ấy (quãng những năm ba mươi), nhiều đêm Ngô Tất Tố thường ngồi ở toà soạn một báo nọ trong góc phố Hàng Da để viết bài. Nguyễn Tuân trẻ trai thường hay đi chơi về khuya nên thỉnh thoảng lại tạt qua đây ngủ nhờ. Bao giờ cũng vậy, trông thấy bộ dạng Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố lại vui vẻ hỏi: “Thế nào, có vui và đông lắm không? Thôi bác thức, tôi đi ngủ đây”. Và Nguyễn Tuân tâm sự: “Nhiều đêm về oi ả quá, tôi chỉ muốn ngủ, còn viết gì thì viết, mai hãy hay. Nhìn những trang viết dở của bác Tố trên bàn, tự nhiên trong người thấy đứng đắn trở lại. Và ngồi vào trước tờ giấy trắng, vừa ngáp vừa nhìn ông bạn vong niên ngon giấc sau khi đã viết một số trang kia”.

Đấy là một kỷ niệm với Ngô Tất Tố lúc ông còn sống, trong đó Nguyễn Tuân không hề phủ nhận vai trò “động viên” tinh thần của bậc đàn anh trong quá trình sáng tác.

Sau khi Ngô Tất Tố mất (1954), năm 1962, Nguyễn Tuân có viết lời giới thiệu cho cuốn Tắt đèntái bản, ông được trả nhuận bút tới... 500 đồng. Giới xuất bản cho đấy là mức “tuyệt trần cao của loại văn đề tựa” (vì theo Nguyễn Tuân cho biết, phở lúc bấy giờ chỉ ba hào một bát). Chưa hết, khi vào vai Chánh tổng trong phim Chị Dậu(chuyển thể từ tiểu thuyết Tắt đèn), ngoài thù lao vai diễn, Nguyễn Tuân càng có thêm nhiều quần chúng biết đến. Ông kể lại: “Đi trên hè phố, nhiều người tôi không quen nhưng nhìn tôi với nụ cười cảm tình với một nhân vật màn ảnh họ vừa nhận ra”.

Đối với Nguyễn Tuân, ông có niềm vui thật trọn vẹn khi nhớ về tình bạn giữa ông và Ngô Tất Tố: Một tình bạn buổi ban đầu đến với văn chương, một tình bạn trong những năm kháng chiến gian khổ, một tình bạn trên trang sách mà ông viết lời giới thiệu và một tình bạn trên những thước phim mà ông tham gia một cách tâm huyế


Giai thoại về cụ Tam Nguyên Yên Đổ

Năm 1902, vua Thành Thái tuần du Bắc Hà kết hợp làm lễ trấn yểm cầu Sông Cái Long Biên – Hà Nội. Dự lễ trấn yểm có tất cả các quan lại đại thần nên các vị đại khoa ở Bắc Hà cũng phải có mặt. Cụ Nguyễn Khuyến mặc dù khi đó đã rời quan trường nhưng đã từng là quan đại thần và đỗ Đại khoa (đứng đầu 3 kỳ thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình) nên vẫn được triệu về Hà Nội để bái yết nhà vua và dự lễ.

  •  

 

Cụ Tam Nguyên Yên Đổ

  • Khi bái yết nhà vua, theo nghi lễ của triều đình tất cả các quan phải quỳ lạy (phủ phục) và hô “vạn tuế”, đó là lẽ thường tình. Đến lượt cụ Tam Nguyên thì trớ trêu cho cụ bởi bà Chánh Phi - vợ của vua Thành Thái trước đây đã từng đính ước với con trai cả của cụ song vì một lý do nào đấy mà không thành. Nay buộc phải thực hiện nghi lễ, nếu lễ vua mà không lễ vợ vua thì không ổn nhưng nếu lễ vợ vua hóa ra cụ lại lễ “con dâu trượt” của mình, sẽ là trò cười cho thiên hạ, ảnh hưởng đến uy tín nhà nho Đại Khoa như cụ và ảnh hưởng đến uy tín của triều đình.

    Đem theo sĩ khí của nho sĩ Bắc Hà, cụ bái yết nhà vua và chỉ vái hai vái, không quỳ lạy như các vị khác, việc làm như vậy là phạm tội “khi quân” (tức là khinh vua), có thể bị chém đầu. Sau khi lễ, Nguyễn Khuyến thưa:

    -   Muôn tâu Hoàng Thượng, thần giờ chỉ như một con trâu già, xin đức Khâm thượng khai ân!

    Nhà vua hiểu được uẩn khúc này nên thông cảm, song để giữ phép vua, phép nước và để thử thách tài ứng khẩu của Nguyễn Khuyến nên truyền thánh chỉ:

    -   Vậy khanh hãy làm bài thơ “Vịnh trâu già”, nếu hay trẫm sẽ miễn tội.

    Với tài ứng khẩu thành thi của mình, cụ Tam Nguyên ung dung đọc bài thơ “Vịnh trâu già” theo thể Đường luật thất ngôn bát cú như sau:

    Một nắm xương khô một nắm da

                                             Bao nhiêu cái ách đã từng qua

                                             Đuôi khom biếng vẫy Điền Đan hỏa

                                             Tai nặng buồn nghe Ninh Tử ca

                                             Sớm thả Vườn Đào chơi đủng đỉnh

                                             Tối về thôn Hạnh thở nghi nga

                                             Có người toan giết tô chuồng mới

                                             Ơn đức vua Tề lại được tha.

    Bài thơ quả là tài tình hiếm có, vừa rất đúng niêm luật, sát với đề tài khó lại khéo léo dùng những điển tích - điển cố để nói lên tâm sự của chính nhà thơ. Trong bài thơ, tác giả ví mình như con trâu già, chỉ còn da bọc xương không còn tác dụng gì với nhà nông nữa, nhưng chính con trâu đó xưa kia đã không tiếc trí lực và tính mạng để giữ gìn bình yên cho giang sơn tổ quốc. Sáu câu thơ cuối sử dụng hàng loạt điển tích nổi tiếng của Trung Quốc thể hiện tài năng thơ phú và kiến thức uyên thâm của Tam Nguyên Yên Đổ.

    Thành Thái là một ông vua tiến bộ, biết được ưu tư của cụ, lại cảm cái khí khái nhà Nho. Nhà vua đánh giá cao bài thơ và khen câu “Ơn Đức vua Tề”, vì vậy không những tha tội mà còn thưởng hậu cho Nguyễn Khuyến.



Những bút danh của nhà văn Nam Cao

Nhà văn Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, quê ở xã Đại Hoàng, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam. Ông là một trong những gương mặt tác giả tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam - một nhà văn hiện thực lớn của Việt Nam, một nhà nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu lớn nhất thế kỷ XX. Bạn đọc từ lâu đã coi “Sống mòn”, “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Đôi mắt”… như những “file nén” chứa đầy giá trị nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo sâu sắc được ký dưới bút danh Nam Cao mà ít người hiểu được ý nghĩa của bút danh này. Và chắc rất nhiều bạn đọc cũng không biết ngoài “Nam Cao” ra, nhà văn còn sử dụng bút danh nào khác? Yêu mến nhà văn và muốn có một cách tiếp cận phong phú hơn về cây bút hiện thực – nhân đạo tiêu biểu của văn học dân tộc, bài viết này hi vọng sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị xung quanh việc chọn bút danh của nhà văn Nam Cao.

 

 

Nhà văn Nam Cao

 

Qua lời kể của những người đã từng có thời gian sống và làm việc cùng nhà văn Nam Cao, thì dưới các bản thảo của mình, ngoài bút danh Nam Cao nhà văn còn còn ký rất nhiều bút danh khác như Nam, Cao, Thúy Rư, Nhiêu Khê, Nguyệt, Suối Trong, Ma Văn Hữu, Xuân Du… Trong đó bút danh Nam Cao được nhà văn sử dụng nhiều nhất và bút danh này được coi như một “con dấu phong cách” mà nhà văn đóng lên các tác phẩm của mình, về sau được coi như những “khuôn thước” cho dòng văn học hiện thực thế kỷ XX.

Nam Cao chính thức bước vào văn đàn năm 1936 với các bút danh Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê… Lúc này trào lưu văn học lãng mạn đang nở rộ do đó các sáng tác đầu tiên của Nam Cao cũng ít nhiều mang khuynh hướng lãng mạn, ủy mị, ướt át. Các tác phẩm cùng với những bút danh của nhà văn thời kỳ này chưa gây được tiếng vang và lưu lại ấn tượng trong lòng độc giả. Nhà văn chỉ thực sự ghi tên mình trên văn đàn khi tập truyện “Đôi lứa xứng đôi”(tên trong bản thảo là “Cái lò gạch cũ”), sau đổi tên thành “Chí Phèo” ra đời – tác phẩm đánh dấu sự rũ bỏ hoàn toàn những ảnh hưởng của văn học lãng mạn và những non nớt, vụng về ban đầu của nghề văn. Đây cũng là lần đầu tiên ông dùng bút danh Nam Cao. Từ đây Nam Cao chuyển hẳn sang dòng văn học hiện thực - nhân đạo với liên tiếp các truyện ngắn đặc sắc phản ánh chân thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám cùng với nỗi bi kịch của con người khi bị cái đói, cái khốn khổ, cái dốt nát bủa vây. Các tác phẩm của ông tuy không đả phá trực diện tội ác của thực dân – phong kiến nhưng luôn ngầm chứa sức mạnh của sự tố cáo, phản kháng và đầy ắp tình cảm nhân đạo đối với nhân dân. Không thể phủ định rằng trong gia tài tác phẩm của nhà văn, các tác phẩm được ký dưới bút danh Nam Cao đóng góp một phần quan trọng khẳng định tầm vóc và vị trí của nhà văn trong nền văn học dân tộc.

Giải thích về lý do vì sao anh mình chọn bút danh Nam Cao, ông Trần Hữu Đạt, em trai của nhà văn cho biết: Nam Cao đã ghép chữ đầu tên huyện (Nam Sang) với chữ đầu tên tổng (Cao Đà) làm thành bút danh của mình, để nhớ ơn mảnh đất nơi ông sinh ra. Có một câu chuyện kể rằng khi chia tay Hoàng Cao - một người bạn thân của mình trước khi hai người đi hai hướng đánh giặc, Nam Cao đã nhắn nhủ với bạn rằng: “Chúng mình là con trai làng Đại Hoàng, trai Lý Nhân, trai Nam Sang, đi đâu, làm gì cũng phải xứng danh là trai Nam Sang nhé!”. Nam Cao vốn là người có lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu nhân dân vô cùng sâu sắc nên bút danh đó còn có ý nghĩa là nước Nam cao cả, cao sang nữa.

Như đã liệt kê ở trên, ngoài bút danh Nam Cao, nhà văn xuất sắc thế kỷ XX còn có các bút danh khác như Nhiêu Khê, Xuân Du, Thúy Rư… Theo nhà văn Tô Hoài,Nam Cao ký bút danh Nhiêu Khê là có ý đùa. Còn bút danh Xuân Du mà nhà văn ký dưới các bài thơ của mình là do ông lấy 2 chữ ở đầu câu thơ mà nhà văn và Tô Hoài hồi ấy thường ngâm ngợi:

Xuân du phương thảo địa

Hạ thưởng lục hà trì

Thu ẩm hoàng hoa tửu

Đông ngâm bạch tuyết thi

Tạm dịch:

Mùa xuân chơi miền cỏ non

Mùa hạ tắm hồ sen ngát

Mùa thu uống rượu hoàng hoa

Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng

Còn bút danh Thúy Rư thì do nhà văn lấy một số chữ trong tên thật của mình (Trần Hữu Tri) để ghép lại mà thành. Ở đây chữ “i” đã được thay bằng chữ “y”. Ngoài những bút danh đó ra, khi hoạt động ở Việt Bắc, Nam Cao còn có tên là Ma Văn Hữu. Hồi Cứu quốc ở Việt Bắc, Báo tỉnh Hà Nam, Báo Quân khu Ba… Nam Cao làm ca dao còn lấy bút danh Suối Trong.

Nam Cao bước vào văn đàn khá sớm nhưng chỉ khi ngòi bút ấy chỉ thực sự sắc sảo khi tập trung hướng vào miêu tả cuộc sống hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Vì những đóng góp của mình, Nam Cao được coi là người đem lại chiến thắng vẻ vang cho chủ nghĩa hiện thực trong văn chương hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Bút danh thì có nhiều nhưng phong cách và “cái chất riêng ” của Nam Cao cho đến nay vẫn chỉ có một. Và có thể khẳng định rằng trong tất cả các bút danh đã dùng,Nam Cao là bút danh để lại trong lòng bạn đọc nhiều ấn tượng và ý nghĩa nhất.    

 

                                                                                                     


Nhà văn Nguyễn Tuân: Ông vua tùy bút và "xê dich"

Nhà văn Nguyễn Tuân: Ông vua tùy bút và “xê dịch”

(GD&TĐ) - Sách giáo khoa hiện hành xếp Nguyễn Tuân vào một trong 9 tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Ông được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng  tiếng Việt hiện đại.

Người giễu cợt các nhà phê bình

Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng phải sau 3 năm ông mới nổi tiếng với bút pháp độc đáo, tài hoa trong “Vang bóng một thời” và “Một chuyến đi”... Cách mạng tháng 8/1945 thành công, ông nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới với nhiều tập tùy bút, bút ký như “Sông Đà” (1960), một số tập ký chống Mỹ từ 1965-1975 và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước. Năm 1996, Nguyễn Tuân đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I- 1996) về Văn học - Nghệ thuật.

Ông kể lại rằng phải mất 6 tháng trời quan sát số đồn bốt ở khu vực vĩ tuyến 17 và đếm số thanh ván bắc phía bên kia cầu Hiền Lương, khi hai miền Nam- Bắc còn bị chia cắt. Ông nghĩ ra cách nhờ những người công an sang bờ bên kia công tác, đếm hộ. Cuối cùng ông chấp nhận kết quả là phía bên kia cầu Hiền Lương có được 444 thanh ván. Đấy là một việc làm đầy kỳ công và một sự sáng tạo ngoài sức tưởng tượng của nhiều người, thể hiện được một phần bản chất lao động của nhà văn. Theo ông, nhà văn cần phải “bắt tận tay, day tận trán” từng chi tiết, sự kiện, vấn đề, chứ không thể chàng màng theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” được.

Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất. Từ một con người “chẳng giống ai”, ông đã đem đến cho đời một phong cách nghệ thuật đậm chất Nguyễn.

Sinh thời, nhiều người truyền tai rằng Nguyễn Tuân là nhà văn chúa “ghét” các nhà phê bình. Ông nói rõ quan điểm của mình về chuyện này. “Cái nguyên tắc biết mười nói một không chỉ cần đối với nhà văn, mà cũng cần đối với nhà phê bình. Tôi không chịu được mấy ông phê bình thiển cận. Họ không chỉ hạn hẹp về kiến thức mà còn thiếu vốn sống, thiếu lịch lãm, thiếu cả cảm quan thẩm mỹ. Viết về tác phẩm mà không cần biết gì về nhà văn, chỉ nhìn cái bề ngoài của trang sách rồi cứ thế tán ra. Viết kiểu như thế, có khen người ta cũng làm cho người ta bực bội...”. 

Rồi người ta lại còn đồn rằng Nguyễn Tuân bảo khi ông mất, không để cho các nhà phê bình đi đưa tang. Ông cho hay: “Điều này thì mình đã nói với nhiều người. Mình đã làm sẵn một danh sách những bạn bè mà mình mời đi đưa đám ma mình, không chỉ những anh phê bình tồi mà những thằng cơ hội, nịnh bợ, giả dối, xin đừng để họ đi đưa đám ma mình. Mình cũng dặn vợ con khi hóa vàng cho mình ngoài quần áo, bút mực, vàng mã, nhớ đốt theo cho mình vài hình nộm anh phê bình. Biết đâu về cõi vĩnh hằng anh ta không sợ bóng sợ vía ai nữa thì có thể nói thật. Như vậy mình cũng có người mà trò chuyện, mà tranh luận cũng đỡ buồn...”.

Nhà văn Nguyễn Tuân

Kiêu bạc

Nhưng có lẽ Nguyễn Tuân là nhà văn duy nhất ở cương vị Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật (HLHVHNT) dám nói và có thể sẵn sàng làm những điều mà không ai có thể làm được trong hoàn cảnh ấy. Ấy là vào thời kỳ đấu tranh chống nhóm “Nhân văn”. Ông thẳng thắn nói với mọi người: “Xin các anh cứ cung cấp cho chúng tôi một số giấy để in báo, chúng tôi mở cuộc bút chiến, tranh luận công khai với nhóm Nhân văn”.

Về chuyện nghề, nhà văn Nguyễn Tuân chia sẻ rất thực lòng, nhưng cũng theo cách riêng. Ông cho rằng: Anh cố tình làm cho độc đáo là không an thua. Anh cứ viết đúng như anh nghĩ, không uốn éo, không màu mè thì nó sẽ ra phong cách. Có cá tính trong ngôn từ thì nó sẽ nảy ra mỹ học thôi. Nhà văn cũng như nhà phê bình phải biết hài hước, châm biếm - đó là trí tuệ, người thông minh mới biết hài hước... Mỗi nhà văn phải có thế giới riêng, phong cách riêng, ngôn từ riêng. Muốn tìm hiểu, giảng giải, phân tích về nhà văn phải tìm cho ra cái riêng đó. Một nhà văn không có cá tính thật đáng sợ và đáng buồn biết mấy...”

Nhà phê bình văn học Ngoc Trai có lý khi cho rằng: “...Có một Nguyễn Tuân cương trực, ngang bướng, gai góc, khinh bạc, kênh kiệu bên cạnh một Nguyễn Tuân nhân hậu đầy ưu ái với con người, cuộc đời. Có một Nguyễn Tuân ồn ào, phá phách bên cạnh một Nguyễn Tuân cô đơn, luôn nặng trĩu lòng ưu thời mẫn thế...”. Dù nhìn ở góc độ nào, Nguyễn Tuân vẫn là một cây đại thụ trong làng văn chương Việt hiện đại. Chỉ có điều cây đại thụ ấy ngoài cành rễ xum xuê, chồi non, lộc biếc, lá vàng, còn có cả những cái gai vô cùng sắc nhọn, khiến nhiều người cảm thấy e ngại mỗi khi mon men đến gần, nếu chưa đủ thành tâm và một cảm quan thẩm mỹ lành mạnh, một bản lĩnh văn hóa cần phải có đối với một văn nhân đích thực.

Thu Giang

,


Thầy Nguyễn Ngọc Kí - tấm gương sáng học đường

Sinh năm 1947, quê ở Hải Hậu, Nam Định, đến nay thầy giáo ưu tú Nguyễn Ngọc Ký đã ngoài 60 tuổi, sức khỏe đã có phần giảm sút song tình yêu và niềm đam mê đối với nghề giáo vẫn luôn vẹn nguyên trong con người đầy nghị lực này.


12
THÔNG BÁO
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN 
Hướng dẫn GVCN sử dụng SLLĐT 
Hướng dẫn sử dụng SLLĐT 
Hướng dẫn cài đặt SLLĐT 
TKB áp dụng từ 24/9/2018 
VIDEO CLIP
TIN TỨC
Bản tin: Trường THPT Bắc Thăng Long tổ chức truyền thông “Tuyên truyền kĩ năng, khai thác thông tin và ứng xử khi tham gia môi trường mạng” 
Bản tin: Trường THPT Bắc Thăng Long tổ chức Lễ kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 
Bản tin: Trường THPT Bắc Thăng Long tham dự Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp cụm Đông Anh năm học 2018-2019 
KẾ HOẠCH THI ĐUA CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11 
Bản tin: Trường THPT Bắc Thăng Long xuất hiện gương mặt thủ khoa Đại học 
DÀNH CHO QUẢNG CÁO
TRƯỜNG THPT BẮC THĂNG LONG
Địa chỉ: Thôn Bầu – Xã Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội
Tel: 04 39518404
E-mail: c3bacthanglong@hanoiedu.vn
Sơ đồ website | Diễn đàn | Liên hệ